Từ đôi tay của thủ công, tâm hồn của nghệ thuật và chiều sâu của ngôn ngữ đã hun đúc nên một nhà khoa học có tầm ảnh hưởng thế giới
Trong số Café with VASEA kỳ này, chúng tôi hân hạnh giới thiệu GS. Nguyễn Nam-Trung – Australian Laureate Fellow và là một trong những nhà khoa học gốc Việt có tầm ảnh hưởng quốc tế trong lĩnh vực microfluidics và nanofluidics.
Ông nhận bằng Tiến sĩ và Habilitation tại Chemnitz University of Technology, từng làm việc tại Robert Bosch GmbH và là nghiên cứu viên sau tiến sĩ tại University of California, Berkeley. Ông từng giữ vai trò Giáo sư và Giám đốc Trung tâm Công nghệ Vi & Nano tại Griffith University, đồng thời liên tục được ghi nhận là nhà nghiên cứu hàng đầu tại Úc trong lĩnh vực Hóa phân tích giai đoạn 2020–2024.
Hiện nay, GS. Trung được xếp hạng thứ 8 thế giới về microfluidics và thứ 2 về nanofluidics. Ông cũng là tác giả cuốn sách Fundamentals and Applications of Microfluidics – tài liệu nền tảng được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực vi lưu trên toàn cầu.
Café with VASEA: Thưa Giáo sư Nguyễn Nam Trung, ông thường bắt đầu bài nói bằng những ký ức thời bao cấp ở Hà Nội. Những trải nghiệm đó đã định hình tư duy khoa học của ông như thế nào?
GS Trung: Thời bao cấp để lại dấu ấn rất lớn trong tôi. Tôi lớn lên ở Hà Nội khi chiến tranh vừa kết thúc và đi du học trước khi công cuộc Đổi Mới còn chưa bắt đầu. Thiếu thốn và khó khăn trong thời gian này tạo nên một số cá tính và tư duy làm việc rất hợp với làm khoa học: hiếu kì, giải quyết vấn đề trong mọi hoàn cảnh và điều kiện, bền bỉ (grit).
Hiếu kì khiến tôi thích đọc sách, đọc ngốn ngấu tất cả các sách báo đến được tay mình. Hiếu kì tạo nên một kỹ năng rất quan trọng là tự học và tự tìm tòi, rất cần khi ta làm nghiên cứu tiên phong. Thiếu thốn khiến ta phải tìm ra giải pháp. Thời đó, tôi mê đọc và sưu tầm sách. Sách in thời đó bằng giấy tái chế và đóng bìa mềm rất ẩu, đọc qua một lần là tơi tả. Lúc khoảng 10 tuổi, tôi tự tìm cách đóng sách bìa cứng, bọc vải cho những cuốn sách tôi yêu thích nhất. Từ khâu tìm nguyên liệu, bồi bìa đến kỹ thuật khâu gáy sách thời ấy rất giống với cách tiếp cận một đề tài nghiên cứu mới sau này. Lớn hơn một chút thì nghịch làm pháo định giờ, mua nguyên liệu từ làng Bình Đà gần Hà Nội, hay lắp máy thu radio bán dẫn từ linh kiện mua ngoài chợ trời. Bên cạnh mấy trò nghịch đấy còn phải ngày đêm luyện mấy môn thi đại học, rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian từ rất sớm. Thời đó, thi được vào đại học và được học bổng đi du học Liên Xô hay Đông Âu là cơ hội duy nhất để tiếp tục học tập thoả mãn sự hiếu kì.

GS Trung thời trẻ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong nghiên cứu
Café with VASEA: Nhìn lại hơn 30 năm làm nghiên cứu cạnh tranh quốc tế, theo ông điều gì đã quyết định sự bền bỉ và thành công trong sự nghiệp hàn lâm?
GS Trung: Điều quyết định tiếng Anh gọi là “Grit”, dịch là “sự bền bỉ” chắc cũng chưa sát lắm. Chúng ta thường nghĩ may mắn cũng là một phần quyết định cho thành công, không chỉ trong sự nghiệp hàn lâm mà trong các nghề khác. Nhưng tôi nghĩ chỉ có sự bền bỉ mới cho phép chúng ta nắm được cơ hội may mắn và biến nó thành thành công.
Tôi đi du học Đông Đức năm 1987 thì cuối năm 1989 bức tường Berlin bị phá vỡ. Nước Đức thống nhất vào tháng 10 năm 1990. Liên Xô sụp đổ năm 1991. Trong thời kì bất ổn đó, nếu không kiên định và bền bỉ chắc chắn tôi đã bỏ ngang chuyện học hành, đi làm ăn, mở nhà hàng, xuất nhập khẩu, buôn bán kiếm tiền, cái mà tôi không hứng thú lắm. Thay vì chuyển sang Tây Đức và học lại từ đầu, tôi vẫn ở lại Đông Đức học xong bằng kỹ sư, làm nghiên cứu tiến sĩ, rồi sau này làm tiến sĩ khoa học. Thời đó, chỉ để có cơ hội làm việc ổn định thôi cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tôi phải gia hạn visa hàng năm với sự gây khó dễ và kỳ thị của Sở Ngoại Kiều Đức để hoàn thành công trình ngiên cứu tiến sĩ của mình. Thời đó Mỹ không quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Mãi đến sau 1995, người mang hộ chiếu Việt Nam mới được đi Mỹ. Năm 1997, sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, tôi sang Mỹ làm sau tiến sĩ. Từ Mỹ về Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 không kiếm được việc vì không có hộ khẩu ở thành phố, tôi vẫn tìm cơ hội làm nghiên cứu ở Singapore, và cứ tiếp tục ở nước ngoài như thế tới bây giờ.
Café with VASEA: Trong hành trình nghiên cứu của mình, ông đánh giá vai trò của sự hiếu kỳ và kỷ luật cá nhân ra sao?
GS Trung: Vai trò của kỷ luật cá nhân qua “grit” đã giải thích ở trên. Tình hiếu kỳ được hình thành từ thời thơ ấu và theo tôi trong 30 năm sự nghiệp vừa qua. Tính hiếu kỳ hình thành khi ta có thể đặt câu hỏi “Tại sao?” cho mọi vấn đề và hiện tượng quan sát được. Cả khi làm thí nghiệp không đạt kết quả như giả thiết mong đợi, câu hỏi “Tại sao?” lại mở ra nhiều hướng mới, có khi còn hay hơn và có ích hơn giả thuyết ban đầu. Sự hiếu kỳ cũng là động lực cho việc tự học, học thêm một ngôn ngữ, học thêm kiến thức các ngành khác với ngành mình được đào tạo, học thêm các kỹ năng mới, lập trình, sử dụng máy móc mới, công nghệ mới v.v
Café with VASEA: Vì sao ông cho rằng kỹ năng thực hành và trải nghiệm thực tế là nền tảng quan trọng đối với nhà khoa học?
GS Trung: Tôi chịu ảnh hưởng của giáo dục đại học truyền thống của Đức. Trong các ngành kỹ thuật, hệ thống Đức coi trọng kỹ năng thực hành trước khi vào lý thuyết. Nhiều bạn học của tôi thời sinh viên đã qua học nghề, có khả năng đứng máy khoan, tiện, phay hay nối các mạch điện phức tạp.
Mình đi học trực tiếp từ phổ thông, chương trình phổ thông thời chiến tranh thì bị rút ngắn thành 10 năm nên bị thiếu rất nhiều kiến thức công nghệ và kỹ năng thực hành. Trong 5 năm đào tạo kỹ sư, tôi được đi thực tập và làm thêm ở nhà máy nhiều lần và có cơ hội đứng máy và vận hành các dây chuyền sản xuất.
Kinh nghiệm này khiến tư duy nghiên cứu sau này với những câu hỏi nghiên cứu rất thực tế, phải làm được và ứng dụng được. Trong nghiên cứu đa lĩnh vực, ta cũng cần hiểu rõ vấn đề từ cách nhìn của chuyên gia lĩnh vực khác để hợp tác hiệu quả và có ích.
Café with VASEA: Khả năng sử dụng nhiều ngôn ngữ và làm việc xuyên văn hoá đã hỗ trợ ông như thế nào?
GS Trung: Chúng ta thường mặc định là dùng được tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai là đủ trong sự nghiệp nghiên cứu. Trong môi trường hàn lâm, và trong các môi trường khác như kinh doanh, công nghiệp chắc cũng vậy, kỹ năng kết nối xã hội rất quan trọng cho sự nghiệp.
Thông thạo thêm ngoại ngữ không chỉ cho phép giao tiếp, trao đổi mà mở ra một thế giới mới về văn hóa, cách sống, cách tư duy. Kỹ năng này không chỉ giúp ta cải thiện bản thân mà cũng rất có ích khi lãnh đạo một tập thể đa văn hoá.
Cảm nhận và giao thoa được văn hoá khác cho phép tiếp cận vấn đề và cho ra giải pháp độc đáo. Thêm vào đó, kỹ năng đa ngôn ngữ và đa văn hóa giúp mở ra nhiều cơ hội hợp tác và mở rộng mạng lưới quan hệ.
Café with VASEA: Với các nghiên cứu hiện nay trong khuôn khổ Australian Laureate Fellowship, ông kỳ vọng đâu sẽ là tác động lớn nhất?
GS Trung: Trong khuôn khổ Australian Laureate Fellowship tôi tập trung vào nghiên cứu khám phá (discovery), về cả lý thuyết và công nghệ. Cơ sở lý thuyết sẽ giúp áp dụng tương tác cấu trúc và chất lưu trong các thiết bị phân tích sinh hoá một cách hệ thống và hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng cơ sở cho bộ môn mới mà tôi đặt tên là vi lưu đàn hồi (micro elastic fluidics). Ứng dụng các kết quả của chương trình này sẽ là các thiết bị đeo (wearable), thiết bị cấy (implantable) và thiết bị tích hợp phòng thí nghiệm trong một con chip (lab on a chip) dùng cho phân tích hóa sinh phát hiện bệnh sớm và y tế dự phòng.

GS Trung hiện nay vẫn miệt mài cống hiến cho khoa học
