“Giải quyết bài toán giảm phát thải không thể dựa vào từng chính sách riêng lẻ, mà cần một chiến lược tài chính tổng thể và nhất quán.” – GS. Phạm Thu Thuỷ.
Trong chuyên mục Café cùng VASEA, chúng tôi có dịp trò chuyện cùng GS. TS. Phạm Thu Thủy – chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chính sách khí hậu và tài chính bền vững, hiện đang công tác tại Đại học Flinders (Úc).
Từ góc nhìn nghiên cứu và thực tiễn toàn cầu, Giáo sư chia sẻ những phân tích sâu sắc về các rào cản trong huy động tài chính cho các dự án giảm phát thải, cũng như vai trò của các công cụ tài chính xanh và hợp tác quốc tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cấp bách. Dưới đây là nội dung được biên tập và tóm lược từ cuộc phỏng vấn với Giáo sư Thuỷ:
- Theo Giáo sư, đâu là những rào cản lớn nhất trong việc huy động tài chính cho các dự án giảm phát thải tại các quốc gia đang phát triển?
Trong gần hai thập kỷ qua, nguồn tài chính cho giảm phát thải đã tăng và đa dạng hơn, nhưng vẫn chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu thực tế, chưa đủ để đạt mục tiêu của Thỏa thuận Paris. Các rào cản chính gồm:
- Về chính sách:
- Nhiều cam kết tài chính toàn cầu chưa được thực hiện đầy đủ, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia cả phát triển và đang phát triển phải đối mặt với nhiều biến động chính trị, khủng hoảng tài chính, sự sụt giảm nguồn lực sau hậu COVID-19 và do vậy buộc phải ưu tiên phục hồi kinh tế nội địa thay vì dàn trải nguồn tài chính
- Nguồn tài chính quốc tế dành cho giảm phát thải trên toàn cầu chỉ do một nhóm nhỏ quốc gia đang phát triển tài trợ mà không có sự mở rộng trong nhiều thập kỉ qua, dẫn đến rủi ro gián đoạn nguồn tài chính khi các quốc gia này có thay đổi chính trị.
- Các nguồn tài chính và Quỹ quốc tế giúp các quốc gia chuẩn bị và sẵn sàng ứng phó với khí hậu và giảm phát thải do các nhà tài trợ tạo ra c đang phát triển đang ngày càng thu hẹp mà chưa có nguồn thay thế ổn định
- Thiếu nhất quán giữa chính sách toàn cầu – quốc gia – địa phương dẫn đến việc giảm động lực tài chính cho các bên có liên quan tham gia vào các giải pháp và dự án giảm phát thải Ví dụ, khi các ưu đãi về thuế và tài chính cho các ngành gây phát thải lớn (như thủy điện, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn) cao hơn các hoạt động giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng, các khối đầu tư sẽ tập trung ưu tiên lĩnh vực họ được lợi kinh tế nhất.
→ Điều này cho thấy cần một chiến lược tài chính tổng thể, thay vì cải cách đơn lẻ theo từng ngành. - Về thị trường & cơ chế tài chính:
- Các công cụ như thị trường carbon, trái phiếu xanh… đang phát triển nhưng chưa hoàn thiện, thiếu hướng dẫn và quy định pháp lí rõ ràng. Do việc tham gia vào các cơ chế này mang tính rủi ro cao về pháp luật, kinh tế, và xã hội, các bên có liên quan rất dè dặt tham gia.
- Chi phí triển khai dự án và hoạt động giảm phát thải cao, trong khi mức sẵn sàng chi trả của thị trường còn thấp → chưa tạo đủ động lực kinh tế.
- Về khoa học – công nghệ:
- Dù công nghệ (AI, số hóa) đã cải thiện việc đo lường phát thải, nhưng thiếu phương pháp đánh giá tác động đáng tin cậy.
- Thiếu dữ liệu và chuẩn đo lường khiến nhà đầu tư khó xác định hiệu quả, đặc biệt với các mô hình mới như “tín chỉ các bon rừng, các bon xanh dương”.
- Về năng lực & nhận thức:
- Nhiều bên liên quan còn hạn chế về năng lực kỹ thuật, tài chính và phối hợp liên ngành.
- Doanh nghiệp nhỏ, cộng đồng địa phương và các quốc gia nghèo gặp bất lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn toàn cầu.


Giáo sư Phạm Thu Thủy cùng các đồng nghiệp tại Liên Hiệp Quốc – Ủy ban Biến đổi Khí hậu
- Các công cụ tài chính xanh (như green bonds, carbon pricing) đang hoạt động hiệu quả đến mức nào? Đâu là công cụ có tiềm năng nhất trong 10 năm tới?
Các công cụ tài chính xanh hiện vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, nên cần thêm thời gian để đánh giá hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực giảm phát thải. Ngoài ra do các bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội khác nhau, các công cụ này cần điều chỉnh trong khuôn khổ pháp lí sở tại và hoàn thiện dựa trên các bài học thí điểm trước đó.
Điều quan trọng không phải là tìm ra “công cụ tốt nhất”, vì mỗi công cụ có mục tiêu và nhóm đối tượng khác nhau. Trên thực tế, các công cụ này luôn được triển khai song song nhằm đa dạng hóa nguồn tài chính.
Do đó, trọng tâm cần đặt vào cách kết hợp và vận hành các công cụ trong một chiến lược tổng thể. Việc lựa chọn công cụ nào, vào thời điểm nào, cho đối tượng nào, và kết hợp ra sao để tối ưu hiệu quả kinh tế – môi trường – xã hội là yếu tố quyết định.

Giáo sư Phạm Thu Thủy tại Hội thảo Thị trường Carbon Rừng tổ chức tại Hà Nội
- Chính sách khí hậu hiện nay của các nước phát triển và đang phát triển khác nhau như thế nào, và điều này ảnh hưởng ra sao đến hợp tác quốc tế?
Các nghiên cứu toàn cầu cho thấy không có sự khác biệt lớn về định hướng chính sách giữa các quốc gia, do cùng tuân theo khung báo cáo chung của Liên Hợp Quốc và liên tục học hỏi lẫn nhau qua các cơ chế hợp tác quốc tế.
Điểm khác biệt chủ yếu nằm ở:
- Điều kiện phát triển kinh tế – xã hội
- Năng lực khoa học công nghệ
- Mức độ ưu tiên và nguồn lực tài chính
Vì vậy, mỗi quốc gia cần lựa chọn giải pháp riêng, không có một “công thức chung”. Trong đó, đầu tư vào khoa học công nghệ là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực xây dựng chính sách và phát triển thị trường.
Tuy nhiên, trong bối cảnh các nền kinh tế gắn kết chặt chẽ qua chuỗi cung ứng toàn cầu, hợp tác quốc tế trở thành điều kiện tiên quyết. Ví dụ, các chính sách như Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của châu Âu cho thấy hiệu quả giảm phát thải phụ thuộc lớn vào sự phối hợp với các quốc gia đối tác.
→ Do đó, chia sẻ nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm giữa các quốc gia sẽ tiếp tục là nền tảng cho tiến trình hợp tác khí hậu toàn cầu.

Giáo sư Phạm Thu Thủy với các đồng nghiệp trong dự án quốc tế
~~~~~
Về Giáo sư Phạm Thu Thuỷ
- Phạm Thu Thủy là Giáo sư ngành Chính sách công, đồng thời là một nhà khoa học xã hội và chính trị với chuyên môn sâu về kinh tế chính trị của biến đổi khí hậu. Nghiên cứu của bà tập trung vào các lĩnh vực như phát triển phát thải thấp, thị trường carbon, bảo tồn đa dạng sinh học và chuyển dịch công bằng, với trọng tâm là thúc đẩy tính bao trùm trong chính sách khí hậu.
Với kinh nghiệm làm việc toàn cầu, bà đã hỗ trợ nhiều quốc gia đang phát triển, các tổ chức tài chính quốc tế, doanh nghiệp đa quốc gia và cộng đồng bản địa trong việc thiết kế và triển khai các chính sách, dự án khí hậu hiệu quả và công bằng. Công việc của bà cũng đặc biệt hướng tới các nhóm dễ bị tổn thương—bao gồm phụ nữ, thanh niên, cộng đồng dân tộc thiểu số và người thu nhập thấp—nhằm nâng cao năng lực và đảm bảo họ có thể tham gia, hưởng lợi từ các chính sách và dự án khí hậu.
Bà đã nhận được nhiều giải thưởng và ghi nhận uy tín quốc tế, trong đó có Giải thưởng Australian Climate Action Alumni Award (2023) cùng nhiều chương trình học bổng và lãnh đạo toàn cầu. Bà cũng là thành viên của Ủy ban Khoa học của nhiều sáng kiến toàn cầu quan trọng về biến đổi khí hậu, bao gồm: Global Landscape Forum – Nền tảng lớn nhất thế giới về cảnh quan bền vững và bao trùm; International Land Coalition Asia program – Liên minh toàn cầu hơn 300 tổ chức dân sự và liên chính phủ thúc đẩy quyền sở hữu đất của cộng đồng; Global Forest, People, Climate Initiative về chiến lược thị trường carbon; Global Land Programme – Cộng đồng nghiên cứu và thực hành về hệ thống đất và các giải pháp bền vững toàn cầu; Global Comparative Study on REDD+ – Nghiên cứu lớn nhất về giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng tại hơn 20 quốc gia. Nghiên cứu sáng tạo của Thủy đã đóng góp quan trọng vào các chính sách biến đổi khí hậu toàn cầu, khu vực và quốc gia, bao gồm: Báo cáo bền vững của Liên Hợp Quốc (2016); Hướng dẫn ngành và chính sách giới của Quỹ Khí hậu Xanh; Chiến lược toàn cầu về sự bao trùm xã hội trong các chính sách và dự án carbon rừng cho Quỹ Đa bên của Ngân hàng Thế giới; Đánh giá tiến độ tuyên bố về rừng của New York; Chiến lược thị trường carbon toàn cầu.
